Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2008 đến năm 2009 tại Viện Dinh dưỡng. Muc tiêu: Xác định hàm lượng protein, lipid, glucid, cellulose và các acid béo cần thiết trong khẩu phần của người trưởng thành tại 4 vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam.
Khảo sát tình trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai (PNCT) năm 2006, tình trạng thiếu máu ở phụ nữ cho con bú và trẻ em dưới 5 tuổi năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu máu, thiếu sắt và các yếu tố liên quan với tình trạng thiếu vi chất này ở PNMT, phụ nữ cho con bú và trẻ em < 5 tuổi.
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng thiếu máu (TM), yếu tố liên quan ở trẻ em thai - phụ nữ tuổi sinh đẻ tại 3 phường nội thành, 3 xã ngoại thành Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệ TM vẫn phổ biến ở mức vừa và nặng về mặt YNSKCĐ: nữ có thai: 36,3%; nữ không có thai: 25,5%; Trẻ em: 34,5%.
91 mẫu sữa mẹ từ 91 bà mẹ nuôi con bú trong thời gian từ 29 đến 120 ngày đã được thu thập tại nội thành thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các mẫu sữa được phân tích 18 thành phần acid amin và 3 thành phần miễn dịch (lactoferrine, lysozym, IgA).
Nghiên cứu đánh giá thực trạng thiếu máu, tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun ở phụ nữ 20-35 tuổi tại 6 xã thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ thiếu máu chung là 16,2%, tăng dần theo nhóm tuổi, trong đó 13,9% đối tượng thiếu máu nhẹ, 2,3% thiếu máu vừa.
Dinh dưỡng hợp lý đang trở thành yêu cầu thiết yếu trong toàn bộ chiến lược dự phòng và nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống. Việt Nam cần có một chương trình hành động cụ thể trong kiểm soát các vấn đề dinh dưỡng mới nảy sinh, tiếp tục giải quyết một cách bền vững tình trạng suy dinh dưỡng...
Nghiên cứu trên Bà mẹ nuôi con nhỏ <36 tháng tuổi người dân tộc Ê Đê (ở ĐakLak), Gia Rai và Ba Na (ở GiaLai), M’Nông (ở Đak Nông), Xơ Đăng (ở KonTum) và Cơ Ho (ở Lâm Đồng). Sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả.
Hiệu quả của 3 biện pháp phối hợp truyền thông, quản lý sức khỏe và bổ sung viên Nutrients (β-carotene 1 mg, vitamin E 10mg, vitamin C 70 mg) hàng ngày trên người cao tuổi trong thời gian 3 tháng đã được triển khai tại Thái Bình. Áp dụng thiết kế nghiên cứu thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng.
Nghiên cứu được tiến hành với Mục tiêu: Đánh giá thực trạng khẩu phần, thói quen ăn uống của người tăng acid uric máu và bệnh nhân Gout. Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang, mô tả có phân tích. Đối tượng nghiên cứu: 150 người mắc bệnh gout từ 40 đến 70 tuổi (ít nhất có hai đợt điều trị gout cấp). 150 người không bị gout ( bình thường) - có acid uric...
Trong số rất nhiều rau quả ở Việt Nam,Gấc là một loại quả phổ biến và có giá trị dinh dưỡng cao. Màng đỏ gấc có chứa rất nhiều carotenoid, Vitamin E và các axit béo không no đặc biệt là hàm lượng lycopen chiếm tới 59,4mg% cao hơn nhiều so với các loại quả khác.
Các chỉ số nhân trắc được sử dụng phổ biến để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể và của một cộng đồng. Các chỉ số cân nặng, chiều cao hoặc BMI theo tuổi thường được so sánh với quần thể tham khảo của Tổ chức Y tế thế giới 2006. 1. Ở trẻ em, người ta thường dùng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi để xác định tình trạng SDD nhẹ cân, chiều cao...
Để góp phần phòng chống tăng acid uric máu và bệnh gout, ăn uống hợp lý đóng một vai trò quan trọng. Nghiên cứu được tiến hành với Mục tiêu: “Đánh giá hiệu quả tư vấn dinh dưỡng đến thay đổi khẩu phần ăn, tình trạng bệnh, các chỉ số sinh hóa, các chỉ số nhân trắc của người bệnh gout”.
1. Khuyến khích nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ một cách hợp lý. 2. Cải thiện thực hành nuôi dưỡng; 3. Triển khai các hoạt động ưu tiên trách nhiệm thực hiện; 4. Khuyến cáo toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Thiếu máu thiếu sắt là vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến ảnh hưởng đến phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ có thai sống ở các vùng khó khăn của Việt Nam. Bổ sung sắt là can thiệp được chứng minh là có hiệu quả, tuy nhiên cách vận hành chương trình là vấn đề cần nghiên cứu để đảm bảo độ bao phủ và tính bền vững của can thiệp.
Với quan điểm đầu tư cho dinh dưỡng là đầu tư cho xây dựng nguồn nhân lực vững mạnh có đủ sức khỏe, trí tuệ và cũng là đầu tư cho phát triển. Những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý dựa vào thực phẩm là công cụ quan trọng của giáo dục truyền thông dinh dưỡng nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng của một số quốc gia...
Một nghiên cứu theo dõi dọc 2 năm nhằm mô tả đặc điểm tăng trưởng và đánh giá hiệu quả của bổ sung Đavita đối với tăng trưởng (cân nặng và chiều cao) của trẻ em từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đã được tiến hành tai huyện Sóc Sơn, Hà Nội từ năm 2007 đến 2009.
Các mốc chính về hoạt động, chiến lược phòng chống thiếu vitamin A, thiếu máu dinh dưỡng ở Việt Nam; khuynh hướng thay đổi về tỷ lệ thiếu 2 vi chất dinh dưỡng trên cộng đồng; một số nghiên cứu ở Việt Nam về hiệu quả của can thiệp vi chất dinh dưỡng.
Tình trạng vitamin A ở trẻ em hiện nay vẫn chưa rõ. Khảo sát dịch tễ học được tiến hành nhằm đánh giá tỉ lệ thiếu vitamin A (TVA) ở trẻ dưới 5 tuổi tại TP.HCM và các mối liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 644 trẻ (dưới 5 tuổi) được chọn ngẫu nhiên từ 30 phường/xã trên toàn TP.HCM.
Một nghiên cứu theo dõi phát triển cân nặng và chiều cao của trẻ và đánh giá hiệu quả của bổ sung sản phẩm dinh dưỡng Đavita (đa vi chất dinh dưỡng và protein) đối với cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đã được tiến hành tai huyện Sóc Sơn, Hà Nội từ năm 2007 đến 2009.
Một phương pháp với độ chọn lọc cao và độ nhạy cao đã được phát triển để xác định hàm lượng Chloropropanols bao gồm 1,3-Dichloropropan-2-ol (1,3-DCP) và 3-Chloropropan-1,2-diol (3-MCPD) trong nước tương và tương đặc. Mẫu được đồng nhất và trộn với dung dịch natri clorua bão hòa sau đó cho hấp thụ lên cột kielselgurh.
Độ già thu hái, chất lượng và thời hạn tồn trữ quả sau thu hoạch luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, đặc biệt đối với những quả thuộc nhóm có hô hấp đột biến như quả hồng. Ngoài ra, thời vụ thu hoạch quả hồng Nhân Hậu chỉ kéo dài trong khoảng một tháng, ở thời điểm đỉnh vụ, lượng quả thu hoạch quá nhiều tạo nên áp lực lớn cho việc tiêu thụ...