Trước công nguyên Hyppocrates đã quan niệm: Mối quan hệ của các yếu tố di truyền với môi trường tự nhiên và dinh dưỡng là cơ sở của tình trạng sức khỏe và bệnh tật. Phát triển thể lực trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: yếu tố di truyền và yếu tố môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng, bệnh tật.
Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng, tiến hành tại xã Yên Sở-tỉnh Hà Tây từ tháng 5/2006 đến 5/2007.
Nghiên cứu được các tác giả tiến hành từ năm 2000 đến 2003 nhằm tìm hiểu một số nguy cơ của co giật do hạ canxi máu ở trẻ em theo thiết kế nghiên cứu thuần tập hồi cứu. Đối tượng là bệnh nhi được Viện nhi Trung ương chẩn đoán là co giật do hạ canxi máu.
Bổ sung đa vi chất vào gạo là biện pháp hữu hiệu để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng. Để đánh giá tính khả thi của loại gạo này, nghiên cứu tiến hành đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận gạo bổ sung đa vi chất. Đối tượng điều tra là phụ nữ tuổi sinh đẻ và nhà xay xát tại hai xã của tỉnh Bắc Giang.
Trong quá trình phát triển bào thai, sự nảy mầm của tuyến ức bắt đầu bởi những tế bào gốc lympho T là một yếu tố quyết định cho quá trình phát triển của tế bào lympho T. Tuy nhiên, những phân tử có thể đáp ứng với điều kiện thiếu ôxy của thuộc địa tuyến ức bào thai tại giai đoạn tiền mạch là chưa rõ ràng.
Hiện nay, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, nhất là ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn là một vấn đề y tế cần được quan tâm. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá xu hướng thay đổi giá trị trung bình Z-score của các chỉ số nhân trắc trong các điều tra tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em tại Việt Nam từ năm 2003 – 2011.
Nghiên cứu cắt ngang mô tả (450 trẻ) và thử nghiệm can thiệp cộng đồng (220 trẻ) của ferlin lên tình trạng thiếu máu dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng tuổi được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2007 tại 4 xã thuộc huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang.
Nghiên cứu bệnh chứng (case-control) trên 481 trẻ thấp còi và 450 trẻ không thấp còi theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn được tiến hành tại 3 tỉnh Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy ở nhóm thấp còi là 15,6% và ở nhóm không thấp còi là 11%.
Cân nặng, chiều cao và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu và dưới xương bả vai của 1382 trẻ vị thành niên 11 – 17 tuổi ở các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học ở Hà Nội và Bắc Ninh được thu thập từ tháng 9/2001 đến tháng 1/2002.
Nghiên cứu này nhằm cung cấp số liệu ban đầu về hàm lượng 15 chất PAHs trong 15 món ăn thông dụng chế biến sẵn từ thịt tại Hà Nội. Tổng số 120 mẫu phân tích được thu thập tại 8 quận nội thành Hà Nội. Sử dụng kỹ thuật HPLC với detector huỳnh quang và PDA, chế độ chạy gradient đã được thẩm định để xác định các PAHs.
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2011, trên 810 bà mẹ và trẻ em từ 0-36 tháng tuổi tại 3 xã phường thuộc 3 huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa nhằm mô tả tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) của trẻ và một số chỉ số chính về thực hành dinh dưỡng của bà mẹ.
Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của bổ sung dầu ăn có tăng cường vitamin A lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ 3 đến 5 tuổi. Đây là một nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên trên 304 trẻ từ 3-5 tuổi được phân bổ ngẫu nhiên vào hai nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu được triển khai trong năm 2007 nhằm đánh giá hiệu quả của viên sắt py-rophosphate (SaFe) có chứa đường Difructose Anhydrate III (DFA III) với cải thiện thiếu máu thiếu sắt (TMTS).
Nghiên cứu can thiệp tự đối chứng nhằm đánh giá khả năng kiểm soát tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm VOSCAP chiết tách từ lá vối, lá ổi, lá sen đã được tiến hành trên 40 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Hà Nội. Tiến hành trong 2 ngày khác nhau: Ngày thứ nhất đối tượng chỉ uống 50 ml nước trắng và ăn một bữa ăn với tổng lượng 250 Kcal, ngày...
Nghiên cứu trên 599 đối tượng gồm 295 nam và 304 nữ tuổi từ 25-74 tuổi tại 4 quận nội thành của Hà Nội nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng, các chỉ số lipid máu và xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lipid. Các thông tin về trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, ăn uống được thu thập bằng bộ câu hỏi.
Hiệu quả sử dụng sữa EnPlus được đánh giá trên 151 đối tượng 40-79 tuổi bị thiếu năng lượng trường diễn (CED, BMI<18.5), 40-79 tuổi. Đối tượng được uống khẩu phần bổ sung 2 cốc EnPlus/ngày, 7 ngày/tuần x 12 tuần. Các chỉ số BMI, tỷ lệ mỡ cơ thể; nồng độ Hb, retinol, kẽm huyết thanh được đánh giá khi bắt đầu và khi kết thúc can thiệp.
Nghiên cứu cắt ngang đã được tiến hành tại một địa điểm nông thôn thuộc Hà Nội vào năm 2010 để xác định tỷ lệ thiếu vitamin D và những yếu tố liên quan ở trẻ 1-6 tháng tuổi. Tổng số 186 trẻ từ 1-6 tháng đang được bú mẹ, và các bà mẹ của bé đã được chọn ngẫu nhiên và mời tham gia nghiên cứu.
Dựa vào các bằng chứng thuyết phục về vai trò của chế độ ăn, lối sống trong dự phòng đái tháo đường typ II, người ta khuyến nghị cần duy trì cân nặng ở giới hạn thấp của BMI bình thường (21-23), hoạt động thể lực đều đặn, không béo bụng, duy trì chể độ ăn có lượng acid béo bão hòa thấp (dưới 7% tổng số năng lượng).
Tình trạng Vitamin A (VA) của trẻ 6-36 tháng tuổi sau khi uống VA liều cao và một số yếu tố nguy cơ liên quan được theo dõi trên 233 đối tượng của 2 xã miền núi, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ có nồng độ retinol hyết thanh thấp (<0,7µmol/L), tăng rõ rệt từ 11,6% sau 3 tháng, đến đến 18,9% sau 5 tháng uống VA.
Nghiên cứu tiến hành tại 4 xã miền núi của huyện Yên thế, tỉnh Bắc giang trong 1 năm (11/2009-11/2010). Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân và tìm hiểu liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ có thai với cân nặng và chiều cao của trẻ khi sinh.
Isomalt là loại đường có chỉ số đường huyết và năng lượng thấp (2Kcal/g), vì vậy không những giúp kiểm soát đường huyết ở người có rối loạn dung nạp, đái tháo đường mà còn có lợi cho người thừa cân- béo phì.